Home / Tài liệu môn Sinh học / Sinh học lớp 10 / Đề thi học sinh giỏi môn Sinh học lớp 10 / Đề thi đội tuyển quốc gia môn Sinh học 10 ( tiếp theo)

Đề thi đội tuyển quốc gia môn Sinh học 10 ( tiếp theo)

Đề thi:

Câu 31. 

Để tổng hợp một loại protein đơn giản của người nhờ vi khuẩn qua sử dụng kĩ thuật ADN tái tổ hợp, người ta có 2 cách: 1) Cách thứ nhất: Tách gen mã hóa trực tiếp từ hệ gen trong nhân tế bào, rồi cài đoạn gen đó vào plasmit của vi khuẩn nhờ enzim ligaza; 2)

Cách thứ hai: Tách mARN trưởng thành của gen mã hóa protein đó, sau đó dùng enzim phiên mã ngược tổng hợp lại gen (cADN), rồi cài đoạn ADN này vào plasmit nhờ enzim ligaza. Trong thực tế, người ta thường chọn cách nào? Tại sao?

Câu 32. 

Người la cho 80ml nước chiết thịt (thịt bò hay thịt nạt) vô trùng vào hai bình tam giác cỡ 100ml (kí hiệu là bình A và B), sau đó cho vào mỗi bình 0,50gam đất vườn được lấy ở cùng vị trí và cùng thời điểm, cả hai bình đều được bịt kín bằng nút cao su, đun sôi (100°C) trong 5 phút và đưa vào phòng nuôi cây có nhiệt độ từ 30 – 35°c. Sau một ngày người ta lấy bình thí nghiệm B ra và đun sôi (100°C) trong 5 phút sau đó lại cho vào phòng nuôi cấy. Sau ba ngày cả hai bình thí nghiệm được mở ra thì thấy bình thí nghiệm A có mùi thôi còn bình thí nghiệm B gần như không còn mùi thối. Giải thích.

Câu 33. (Đề thi chọn HSG quốc gia)

Hãy nêu kiểu phân giải, chất nhận điện tử cuối cùng và sản phẩm khử của vi khuẩn lam, vi khuẩn sinh mêtan, vi khuẩn sunfat, nấm men rượu và vi khuẩn lactic đồng hình.

Vi sinh vật

Kiểu phân giải

Chất nhận điện tử

Sản phẩm khử

Vi khuẩn lam

Hô hấp hiếu khí

1

h2o 1

Vi khuẩn sinh mê tan

Hỗ hấp kị khí

um

ch4

Vi khuẩn khử suníal

Hô hấp kị khí

C3

h2s

Nấm men rượu và vi khuẩn lactic đồng hình

Lên men

Chất hữu cơ, ví dụ: Axctan đêhit, Axit piruvic

Êtanol, Axit lactic

cấy ở 35°c trong 18 giờ. Tuy nhiên, bình A được để trên giá tính còn bình B được lắc liên tục (120 vòng/phút). Hãy cho biết sự khác biệt có thể có về mùi vị, độ đục và kiểu hô hấp của các tế bào nấm men giữa hai bình A và B. Giải thích.Bằng thao tác vô trùng, người ta cho 40ml dung dịch 10% đường glucôzơ vào hai bình tam giác cỡ 100ml (kí hiệu là bình A và B), cấy vào mỗi bình 4ml dịch huyền phù nấm men bia (Saccharomyces cerevisiae) có nồng độ 10 tế bào nấm men/lml. cả hai bình đều được đậy nút bông và đưa vào phòng nuôi

Đáp án: 

Câu 31. 

Để tổng hợp một loại protein đơn giản của người nhờ vi khuẩn qua sử dụng kĩ thuật ADN tái tổ hợp, người ta có 2 cách: 1) Cách thứ nhất: Tách gen mã hóa trực tiếp từ hệ gen trong nhân tế bào, rồi cài đoạn gen đó vào plasmit của vi khuẩn nhờ enzim ligaza; 2)

Cách thứ hai: Tách mARN trưởng thành của gen mã hóa protein đó, sau đó dùng enzim phiên mã ngược tổng hợp lại gen (cADN), rồi cài đoạn ADN này vào plasmit nhờ enzim ligaza. Trong thực tế, người ta thường chọn cách nào? Tại sao?

HƯỚNG DẪN GIẢI

Trong thực tế người ta chọn cách thứ 2.

ADN (gen) tách trực tiếp từ hộ gen người thường mang intron, còn ADN (được tổng hợp từ mARN trong tế bào chất) không mang intron.

Các tế bào vi khuẩn không có khả năng cắt bỏ intron của các gen eucariol nên đoạn ADN cài tách trực tiếp từ nhân không tạo ra được protein bình thường.

Đoạn ADN phiên mã ngƯỢc ADN chính là bản sao tương ứng của mARN dùng để dịch mã protein, có kích thước ngắn hơn nên dễ dàng tách dòng và biểu hiện trong điều kiện in-vitro (tổng hợp nhân tạo).

Câu 32. 

Người la cho 80ml nước chiết thịt (thịt bò hay thịt nạt) vô trùng vào hai bình tam giác cỡ 100ml (kí hiệu là bình A và B), sau đó cho vào mỗi bình 0,50gam đất vườn được lấy ở cùng vị trí và cùng thời điểm, cả hai bình đều được bịt kín bằng nút cao su, đun sôi (100°C) trong 5 phút và đưa vào phòng nuôi cây có nhiệt độ từ 30 – 35°c. Sau một ngày người ta lấy bình thí nghiệm B ra và đun sôi (100°C) trong 5 phút sau đó lại cho vào phòng nuôi cấy. Sau ba ngày cả hai bình thí nghiệm được mở ra thì thấy bình thí nghiệm A có mùi thôi còn bình thí nghiệm B gần như không còn mùi thối. Giải thích.

HƯỚNG DẪN GIẢI

  • Trong 0,5gam đất chứa nhiều mầm vi sinh vật, ở nhiệt độ sôi 100°c các tế bào dinh dưỡng đều chốt chỉ còn lại nội bào tử (cndospore) của vi khuẩn.
  • Trong bình thí nghiệm A, các nội bào tử vi khuẩn sẽ nảy mầm và phân giải prôtein của nước thịt trong điều kiện kị khí.
  • Nước là môi trường dư thừa hợp chất nitơ và thiếu cacbon, nên những vi khuẩn kị khí sẽ khử amin giải phóng NH3, H2S để sử dụng cacbonhyđrat làm nguồn năng lượng trong len men.
  • Vì vậy, khi mở nắp ống nghiệm các loại khí NH3, H2S hay gây thối rất khó chịu, còn gọi là quá trình amôn hóa kị khí là lên men thối.
  • Trong bình thí nghiệm B, các nội bào tử nảy mầm hình thành tế bào dinh dưỡng chúng bị tiêu diệt sau 1 ngày bị đun sôi lần thứ hai, do đó prôtêin không bị phân giải, kết quả không có mùi.
>> Xem thêm:  Tổng hợp một số dạng đề thi môn Sinh học 10

Câu 33. (Đề thi chọn HSG quốc gia)

Hãy nêu kiểu phân giải, chất nhận điện tử cuối cùng và sản phẩm khử của vi khuẩn lam, vi khuẩn sinh mêtan, vi khuẩn sunfat, nấm men rượu và vi khuẩn lactic đồng hình.

Vi sinh vật

Kiểu phân giải

Chất nhận điện tử

Sản phẩm khử

Vi khuẩn lam

Hô hấp hiếu khí

1

h2o 1

Vi khuẩn sinh mê tan

Hỗ hấp kị khí

um

ch4

Vi khuẩn khử suníal

Hô hấp kị khí

C3

h2s

Nấm men rượu và vi khuẩn lactic đồng hình

Lên men

Chất hữu cơ, ví dụ: Axctan đêhit, Axit piruvic

Êtanol, Axit lactic

cấy ở 35°c trong 18 giờ. Tuy nhiên, bình A được để trên giá tính còn bình B được lắc liên tục (120 vòng/phút). Hãy cho biết sự khác biệt có thể có về mùi vị, độ đục và kiểu hô hấp của các tế bào nấm men giữa hai bình A và B. Giải thích.Bằng thao tác vô trùng, người ta cho 40ml dung dịch 10% đường glucôzơ vào hai bình tam giác cỡ 100ml (kí hiệu là bình A và B), cấy vào mỗi bình 4ml dịch huyền phù nấm men bia (Saccharomyces cerevisiae) có nồng độ 10 tế bào nấm men/lml. cả hai bình đều được đậy nút bông và đưa vào phòng nuôi

HƯỚNG DẪN GIẢI

Bình thí nghiệm A có mùi rượu khá rõ và độ đục thấp hơn so với ở bình B: Trong bình A để trên giá tính thì những tế bào phía trên sẽ hô hấp hiếu khí còn tế bào phía dưới sẽ có ít oxi nên chủ yếu tiến hành lên men etylic, theo phương trình giản lược sau: Glucôzơ —> 2etanol + 2C02 + 2ATP. vì lên men tạo ra ít năng lượng nên tế bào sinh trưởng chậm và phân chia ít dẫn đến sinh khôi thấp, tạo ra nhiều etanol.

>> Xem thêm:  Đề thi học sinh giỏi- Sinh học 10

Bình thí nghiệm B hầu như không có mùi rượu, độ đục cao hơn bình thí nghiệm A: Do để trên máy lắc thì oxi được hoà tan đều trong bình nên các tế bào chủ yếu hô hấp hiếu khí theo phương trình giản lược như sau: Glucôzơ + 6O2 —> 6H20 + 6C02 + 38ATP. Nấm men có nhiều năng lượng nên sinh trưởng mạnh làm xuất hiện nhiều tế bào trong bình dẫn đến đục hơn, tạo ra ít elanol và nhiều C02.

Kiểu hô hấp của các tế bào nấm men ở bình A: Chủ yếu là lên men, chất nhận điện tử là chất hữu cơ, không có chuỗi truyền điện tử, sản phẩm của lên men là chất hữu cơ (trong trường hợp này là etanol), tạo ra ít ATP.

Kiểu hô hấp của các tế bào nấm men ở bình B: Chủ yếu là hô hấp hiếu khí, do lắc có nhiều oxi, chất nhận điện tử cuối cùng là oxi thông qua chuỗi truyền điện tử, tạo ra nhiều ATP.

Sản phẩm cuối cùng là C02 và H20.

Check Also

hinh gai xinh hoc sinh de thuong 310x165 - Đề thi học sinh giỏi trắc nghiệm môn Sinh học 10 ( tiếp theo 4)

Đề thi học sinh giỏi trắc nghiệm môn Sinh học 10 ( tiếp theo 4)

Đề thi:  Câu 225. Câu phát biểu nào sau đây là đúng? Tế hào bảo …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *