Home / Tài liệu môn Lịch sử / Thơ vui Lịch sử / Lịch sử Việt Nam qua thơ – Phần 1

Lịch sử Việt Nam qua thơ – Phần 1

Lời Giới Thiệu: Viết một bài thơ để diễn tả tâm trạng hay để kể một câu truyện có hồn hay ý tưởng, thường là không đơn giản, và đòi hỏi một sự tập trung hay đôi khi cần đến sự xuất thần nhập vai nhân vật của tác giả. Viết thơ để kể chuyện lịch sử dân tộc lại càng khó thực hiện nếu người viết không mang một hoài bảo hay mong ước, khát khao đóng góp cho nền văn hóa nước nhà tại hải ngoại. Những giòng sử viết bằng thơ lục bát là thể thơ thuần tuý của người VN đã được thể hiện qua ngòi bút của Nguyễn Sơn Đảo, với sự học hỏi về cách gieo vần trong ca dao,, trong Kiều của cụ Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu, và thể lục bát chấm xuống dòng của ông Bút Tre.

Bức Tranh Vân Cẩu kính mời quý vị độc giả cùng thưởng thức những giòng thơ sử Việt Nam của tác giả Nguyễn Sơn Đảo.

Việt Nam nòi giống Lạc Hồng

Bao đời thắm gội máu dòng sử xanh

Mẹ hiền sinh đấng hùng anh

Xây nền tự chủ rạng danh nước nhà

Khởi từ lịch sử dân ta

Vua Hùng dựng nước tên là Văn Lang

Lập ra phép tắc vua quan

Võ quan Lạc tướng văn quan Lạc hầu

Quan Bồ Chính nhỏ đầu tầu

Địa phương mỗi vị dịp cầu dân gian

Nam con vua gọi quan Lang

Nữ con vua gọi Mỵ nương tước đời

Cha truyền trai trưởng nối ngôi

Chăm lo việc nước thay Trời giúp dân

Dưới vua là các quần thần

Chung tay xây dựng góp phần mai sau

Đóng đô ở đất Phong châu

Chia mười lăm bộ kế nhau trị vì

Đến đời mười tám vận suy

Thục vương làm phản cướp đi ngai rồng

Cứ vào huyền sử Lạc Hồng

Đế Minh là cháu thần Nông ba đời

Phương nam tuần thú vui chơi

Thương nàng tiên Ngũ Lĩnh thời kết duyên

Sinh trai Lộc Tục ngoan hiền

Phong con trưởng thứ mỗi miền một vương

Đế Nghi trai trưởng bắc phương

Thứ trai Lộc Tục nam phương vẫy vùng

Kinh Dương vương Lộc Tục xưng

Nước tên Xích Quỷ đất trưng bản đồ

Bắc biên giới Động Đình hồ

Hướng nam biên ải nước Hồ Tôn ranh

Đông Nam Hải bể bao quanh

Phía tây Ba Thục rừng xanh cõi bờ

Cưới nàng Long Động Đình hồ

Phu thê hòa thuận ước mơ thế trần

>> Xem thêm:  Lịch sử Việt Nam qua thơ - Phần 3

Sinh Sùng Lãm Lạc Long quân

Lên ngai kết mối tình thân tiên rồng

Cùng Âu Cơ nghĩa vợ chồng

Sinh ra một bọc Lạc Hồng trăm con

Người dưới nước, kẻ trên non

Sống chung xung khắc hao mòn lạt phai

Lạc Long quân quyết chia hai

Mỗi bên một nửa sinh nhai mỗi vùng

Năm mươi lên quản núi rừng

Năm mươi xuống biển thôn đồng mở mang

Đẹp Trời con trưởng sai sang

Phong làm vua nước Văn Lang một dòng

Dựng lên Lạc Việt vua Hùng

Giang sơn một dải ngư nông rộn ràng

Bàn về cổ tích Hồng Bàng

Đời Hùng thứ nhất còn trang sử rằng

Người dân chài lưới ven sông

Thường hay bị giống thuồng luồng bắt ăn

Vua truyền chàm vẽ vào thân

Để lừa thủy quái khó phân hại mình

Hương Phù Đổng bộ Vũ Ninh

Đời Hùng thứ sáu dân tình nguy nan

Giặc Ân hung mạnh tràn sang

Không ai chống nổi vua ban chỉ truyền

Sứ rao dân chúng mọi miền

Tìm người tài đức dẹp yên giặc này

Tới làng Phù Đổng lạ thay

Anh nhi ba tuổi xung tay tưởng đùa

Đem về tâu lại cùng vua

Vua cười vui vẻ bảo đưa bé vào

Hỏi nhà ngươi biết ra sao

Giặc Ân hung bạo kế nào phá đi

Thưa rằng bệ hạ lo chi  (1)

Một roi ngựa sắt thần thì dẹp tan

Chờ gươm roi ngựa sẵn sàng

Vươn vai một cái kinh hoàng vua quan

Thân cao một trương hiên ngang

Vung roi thúc ngựa lên đàng đánh Ân

Hai bên tướng sĩ dạ rân

Giặc Ân sợ hãi lui quân cấp thời

Đuổi xuôi xả giặc yên đời

Ngựa người biến mất trong trời Sóc sơn

Nhà vua cảm động tiếc thương

Phong là Phù Đổng Thiên vương lập đền

Hiện nay còn vẫn lưu truyền

Tháng tư mùng chín hội đền nhớ ơn

Sau khi dẹp giặc Ân xong

Vua Hùng chú trọng việc con cung đình

Truyền quan Lang đến dự tranh

Ai làm được món ngon lành lạ hay

Nói lên ý nghĩa cỗ bày

Thì ta sẽ chọn lên ngai nối dòng

Các quan Lang thế như rồng

Đua nhau đi tới núi rừng đảo xa

Sơn hào hải vị tìm ra

Với hy vọng được vua cha hài lòng

Riêng con mười tám vua Hùng

Tiết Liêu hiền hiếu thảo cùng mẹ cha

Chọn nơi thôn dã là nhà

Mẹ đà mất sớm cậy bà vú chăm

Ngày đêm lo lắng buồn tâm

>> Xem thêm:  Đại Nam quốc sử diễn ca

Một hôm mộng thấy thần thầm mách cho

Này con đừng có âu lo

Gạo thì nuôi sống quý cho con người

Lấy làm bánh tượng Đất Trời

Sinh thành dưỡng dục ở đời lá nhân

Nhớ lời chỉ dạy của thần

Tiết Liêu ngâm gạo nếp mần bánh chưng

Tượng hình Đất bánh hình vuông

Lá dong xanh gói nếp nương nhân vàng

Tượng hình Cha Mẹ cưu mang

Thương yêu đùm bọc hết lòng vì con

Giã xôi làm bánh hình tròn

Tượng hình Trời trắng giẹp thon bánh dầy

Đến ngày chấm điểm sum vầy

Của ngon vật lạ cỗ đầy mâm bưng

Tiết Liêu hai bánh dầy chưng

Vua cha thấy vậy hỏi chừng là sao

Liền đem chuyện mộng thần vào

Kể ra chi tiết Trời cao Đất dày

Công ơn Cha Mẹ là đây

Ngụ trong ý đẹp bánh dầy bánh chưng

Vua cha nếm thử vui mừng

Ban cho ngôi báu truyền chung tết này

Cúng Trời Đất Tổ Tiên bày

Dâng mâm của lễ bánh dầy bánh chưng

Tích đời mười tám Hùng vương

Mỵ nương tính nết khiêm nhường đẹp xinh

Chàng Sơn Tinh với Thủy Tinh

Cả hai đều muốn se tình bách niên

Vua truyền ai thắm lương duyên

Ngày mai tới trước con hiền sẽ ban

Hôm sau sính lễ lên đàng

Sơn Tinh lẹ bước rước nàng Mỵ luôn

Thủy Tinh trễ mất người thương

Giận làm gió nổi mưa tuôn lũ trào

Sơn Tinh làm núi dưng cao

Nước dâng nhiêu trượng núi bao nấy tầm

Và dùng sấm chớp ầm ầm

Ở trên liên tiếp búa tầm sét công

Thủy Tinh thua thẹn trong lòng

Bèn toan rút nước hòa dòng biển sông

Học chương huyền sử Lạc Hồng

Là tìm gốc tích cội nguồn dân ta

Ban đầu mờ mịt sử gia

Tục truyền ôn lại viết ra cho đời

Nước nào cũng thế mà thôi

Có Thần Tiên Thánh chủng nòi vẻ vang

Ai thì biết thuở hồng hoang

Ta từ đâu đến vương mang cõi phàm

Lật trang sử cổ Hồng Bàng

Xem trang sử tiếp ngai vàng Thục gia

Thục trong sách sử dân ta

Không là Ba Thục quê nhà chú Ba

Dẫn y như sử China

Nhà Tần ngày ấy chiếm Ba Thục rồi

Thêm vào đường sá xa khơi

Núi sông ngăn trở khó thời làm nên

Thục là Thục Phán họ tên

Họ nào độc lập ở liền nước ta

Sử Hùng mười tám ghi là

Mỵ nương nhan sắc mặn mà dễ thương

>> Xem thêm:  Lịch sử nước ta

Có người danh phận Thục vương

Dạm xin vua cưới Mỵ nương bất thành

Sinh lòng đố kỵ đua tranh

Dặn sau con cháu lấy thành Hùng vương

Cậy mình tướng dũng binh cường

Rượu chè vui thú coi thường đối phương

Nhân tình thế cháu Thục vương

Là ông Thục Phán am tường đánh ngang

Hùng vương thua chạy cùng đàng

Tự trầm xuống giếng tạ hàng tiên vương

Sau này vua Thục nhớ ơn

Xây đền quốc tổ Hùng vương lưu đời

Tháng ba âm lịch mùng mười

Hàng năm làm giỗ kính Người thượng hương

Dẹp yên binh loạn bốn phương

Lên ngôi niên hiệu An Dương vương quyền

Hai năm bảy trước công nguyên (257 TCN)

Nước tên Âu Lạc đô miền Phong Khê

Dân đông trù phú tiện bề

Hai đường thủy bộ đi về thông thương

Đến năm bính ngọ Thục vương (255 TCN)

Nối gò đắp lũy hào mương xây thành

Ngoài nhìn trôn ốc xoay quanh

Cho nên ta gọi là thành Cổ Loa

Thăng trầm vận nước trải qua

Vẫn còn dấu tích thành Loa Lạc Hồng

Tục truyền vua Thục khởi công

Yêu ma quấy nhiễu xây xong đổ thành

Lập đàn vua khẩn cầu lành

Thần Kim Quy giúp xây thành mới an

Lại ban một cái móng chân

Làm cò lẫy gọi nỏ thần Kim Quy

Giặc vào bắn phát thị uy

Tên bay hàng loạt giết đi vài ngàn

An Dương khai phá mở mang

Rộng lên phía bắc sang phần Quảng Tây

Biên cương Âu Lạc đo đầy

Bao gồm Tượng quận cấy cày nông gia

Nguyễn Sơn Đào

(1) câu bé Phù Đổng nói với sứ giả, nên dùng từ bệ hạ.

Check Also

hoccham img - 100 câu thơ về lịch sử Việt Nam

100 câu thơ về lịch sử Việt Nam

1. Vua nào mặt sắt đen sì? 2. Vua nào trong buổi hàn vi ở …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *