Home / Tài liệu môn Lịch sử / Thơ vui Lịch sử / Lịch sử Việt Nam qua thơ – Phần 2

Lịch sử Việt Nam qua thơ – Phần 2

Cùng thời vua Thục bên ta

Nhà Tần thống nhất China nắm quyền

Hai mười bốn trước công nguyên (214 TCN)

Thủy Hoàng nhòm ngó đất miền Lĩnh Nam

Sai Đồ Thư tướng chinh Nam

Đánh quân Bách Việt chiếm thành lấy dân

An Dương vương cũng phục Tần

Vua Tần sắp đặt quan quân chia làm

Quế Lâm quận hướng tây nam

Hướng đông quận thứ hai Nam Hải và

Hướng nam Tượng quận nước ta

Nhưng dân bản xứ tránh xa người Tàu

Giống dòng Bách Việt rủ nhau

Kéo vào rừng ở ít lâu quân Tần

Không quen thủy thổ suy dần

Tinh thần sa sút bịnh hành liên miên

Người dân Bách Việt nổi lên

Chém Đồ Thư chết Lâu Thuyền vỡ tan

Năm tân mão vận Tần tàn (210 TCN)

Thủy Hoàng thác bọn quyền thần nôn nao

Bấy giờ quan úy Nhâm Ngao

Quận Nam Hải muốn vươn cao cơ đồ

Chiếm Âu Lạc nhập dưới cờ

Lập nhà nước tự chủ bờ cõi Nam

Nhưng hoài bão lớn chưa làm

Úy Nhâm Ngao mất Triệu Đà phó thay

Rắp tâm đeo đuổi việc này

Dùng con Trọng Thủy ý bày thầm sâu

Cưới công chúa Thục Mỵ Châu

Dò la sự thể tình đầu nước ta

Nghĩ phò mã hỏi xuê xoa

Mỵ Châu vui miệng nói ra nỏ thần

Trúng ngay diệu kế hòa thân

Nào hay chồng tráo móng chân lẫy cò

Bo bo Trọng Thủy giả đò

Tôi về bên nớ âu lo cho nàng

Sợ mai chiến địa đôi đàng

Người nam kẻ bắc tìm nàng ở mô

Mỵ Châu lòng vẫn ngây thơ

Áo em lông ngỗng phòng hờ bên ni

Rứt lông em thử vận thì

Chàng đi lối ấy có chi buồn rầu

Giã nàng muôn dặm vó câu

Linh Quang Kim Trảo nỏ tâu Triệu Đà

Biết rành tình thế nước ta

Nhằm năm quý tỵ Triệu Đà cất quân

Thục vương cậy có nỏ thần

Đợi quân Triệu áp đến gần bắn qua

Không ngờ thua trí sui gia

Lẫy cò bị tráo nỏ đà hết linh

An Dương vương bỏ cung đình

Vội cùng công chúa bôn trình vào nam

Tới chân Mộ Dạ – Nghệ An

Kề nơi bờ biển khấn thần Kim Quy

Triệu Đà bám sát lâm nguy

Xin thần chỉ dẫn đường đi lánh nàn

Kim Quy báo ngã ba đàng

Mỵ Châu để dấu chồng nàng nga mao

Vua An Dương tức nghẹn ngào

>> Xem thêm:  100 câu thơ về lịch sử Việt Nam

Vung gươm chém Mỵ Châu nào được an

Nỗi niềm bào xé tâm can

Biển xanh Mộ Dạ – Nghệ An gieo mình

Nóng lòng Trọng Thủy xua binh

Ngựa phi kíp quá khắc tình phu thê

Gặp nhau trong cảnh não nề

Lặng ôm xác vợ trở về Cổ Loa

Sai người cấp táng hương hoa

Rồi ra nhảy giếng thành Loa theo nàng

Triệu Đà sao nỡ phũ phàng

Oái oăm tình sử bẽ bàng thiên duyên

Hai không bảy trước công nguyên (207 TCN)

Mưu gian Trọng Thủy thắng liền Thục vương

Triệu Đà xưng Triệu Vũ vương

Lên ngai cai quản một vùng phía Nam

Nước ta Nam Hải lân bang

Nhập thành Nam Việt hiên ngang vẫy vùng

Đóng đô ở đất Phiên Ngung

Ung dung việc nước dập khuôn mẫu Tàu

Tinh thần độc lâp phai mau

Chư hầu sau cũng gốc Tàu nở hoa

Tạm thời gác chuyện Triệu gia

Lướt xem phong kiến ngàn xa xưa Tàu

Mỗi châu một vị cầm đầu

Gọi là vua nước chư hầu địa phương

Phải thần phục cống Tàu vương

Mỗi đời số tiểu quốc thường khác nhau

Như vua Hạ hội chư hầu

Có hàng vạn nước đến chầu Đồ sơn

Khi nhà Chu thắng Trụ vương

Tám trăm cả thảy Vũ vương chia làm

Công Hầu Bá Tử và Nam

Bảy mươi người được vua ban chư hầu

Nước trăm dặm tước Công Hầu

Bảy mươi tước Bá tước cầu Tử Nam

Năm mươi dặm lại gia ban

Phụ Dung nước nhỏ hơn hàng Tử Nam

Nhà Chu quan chế sáu Quan

Mỗi Quan có sáu mươi quan đổ đồng

Là ba trăm sáu mươi ông

Địa Thiên Xuân Hạ Thu Đông lục dòng

Thái sư, phó, bảo tam công

Thiếu sư, phó, bảo tam cô đại thần

Để bàn việc nước an dân

Chứ về hành chính không can dự phần

Ân Chu pháp chế chặt chân

Đánh roi da xích tù nhân gọt đầu

Lăng trì mổ muối vạc dầu

Xé thây phơi xác bêu đầu.v..v…

Về binh chế của Chu quân

Năm người một Ngũ Ngũ nhân năm là

Hăm lăm một Lượng nhân ra

Một trăm là Tốt Lữ là năm trăm

Một Sư là Lữ nhân năm

Nhân năm Sư lấy số làm một Quân

Nước Thiên Tử có sáu quân

Chư hầu lớn nhỏ vừa phân biệt là

Ba Quân cho đại quốc và

>> Xem thêm:  Sơ lược lịch sử phong kiến Việt Nam

Hai cho trung quốc tiểu là một Quân

Việc binh chế ở trong dân

Tám nhà một Tỉnh Tỉnh nhân bốn là

Băm hai một Ấp tính ra

Khâu là bốn Ấp Điện là bốn Khâu

Điện thì phụ trách như nhau

Binh xa một cỗ số đầu quân trăm

Tải khiêng đồ nặng hăm lăm

Bảy hai bộ tốt giáp dăm ba còn

Bò mười hai ngựa bốn con

Lúc cần phục dịch nước non mọi miền

Ân Chu dùng phép tỉnh điền

Chia hình chữ Tỉnh tư diền tám khu

Công điền ở giữa một khu

Tám nhà một tỉnh công tư cày bừa

Công chừa hoa lợi đức vua

Tới đời Chiến Quốc các vua Ngụy Tần

Lý Khôi nước Ngụy canh tân

Đất không định hạn bắt dân rán mần

Công Tôn Ưởng tướng nhà Tần

Mở thiên mạch bỏ Chu Ân tỉnh điền

Mọi người tự tiện làm nên

Phép chia từ đó dần liền mất đi

Học linh hai cấp Chu ghi

Tiểu thì tám tuổi đại thì mười lăm

Thi thư lễ nhạc siêng chăm

Kính trên ứng đối trọng tăm tiếng đời

Nhà Chu học đã thịnh rồi

Đến Xuân Thu có lắm người tài danh

Khổng bàn hiếu đễ nghĩa nhân

Dương Chu vị kỷ thiệt thân không làm

Lẽ kiêm ái Mặc Địch bàn

Hàn Phi, Thân Bất Hại bàn trị dân

Lão bàn đạo các triết nhân

Điền Biền, Quỷ Cốc.v..v…mỗi người

Xướng ra một thuyết dạy đời

Biết điều phải quấy nói lời thiện ngay

Nước Tàu gốc sự cấy cày

Nuôi tằm dệt lụa thêu may vá rành

Bán buôn họp chợ tinh lanh

Lưới chài săn bắn đồ sành sứ quen

Gia đình nghiêm lắm dưới trên

Yêu nhau cùng họ cấm nên vợ chồng

Con theo cha vợ theo chồng

Gái trai bảy tuổi là không được nằm

Ăn ngồi một chiếu một mâm

Việc thờ phụng Tổ Tiên tâm chí thành

Nhà vua thường cũng lập đàn

Nam Dao tế Thượng Đế ban thái bình

Xem thì tam đại văn minh

Cuối Chu suy nổi đao binh chư hầu

Xuân Thu Chiến Quốc chia bâu

Sau Tần thống nhất xứ Tàu biến thiên

Bỏ phong kiến phép tỉnh điền

Lập ra quận huyện cấm truyền bá nho

Cốt dùng pháp luật trợ cho

Uy quyền chính trị mà gò bó dân

Đang khi phong tục cải lần

Xảy tranh chấp Hán Sở Tần xót xa

Vào triều vua Triệu Vũ ta

>> Xem thêm:  Lịch sử Việt Nam qua thơ - Phần 3

Tình hình chiến sự China thoái dần

Bá vương Hạng Võ trừ Tần

Lưu Bang diệt Sở dân lành thở yên

Hai không hai trước công nguyên (202 TCN)

Lên ngôi xưng Trẫm bỉnh quyền Bắc phương

Tức Cao Tổ Hán gia vương

Định quan chế đặt kỷ cương trị đời

Tới năm ất tỵ đương thời (196 TCN)

Thấy nhà Triệu cứ đất trời Lĩnh Nam

Lưu Bang nổi tiếng tham lam

Bèn sai Lục Giả sang đàm thí vương

Vũ vương bản tính quật cường

Đâu thần phục Hán nhậm vương chư hầu

Đến nơi Lục Giả vô chầu

Vũ vương tĩnh tọa cưỡng cầu cạnh căng

Bấy giờ Lục Giả nói rằng

“Nhà vua nguyên gốc tóc răng người Tàu

Họ hàng mồ mả cuống nhau

Ở châu Chân Định lẽ nào ganh đua

Nay nhà Hán đã làm vua

Triệu vương kháng cự sứ thừa lệnh phong

E là Hán đế không dung

Ba đời mồ mả họ hàng bất an”

Vũ vương nghe thế vội vàng

Đứng lên làm lễ tạ ân nói là

“Chắc gì Hán đế hơn ta

Nếu ta khởi nghiệp bên nhà một khi”

Nguyễn Sơn Đảo

Check Also

hoccham img - 100 câu thơ về lịch sử Việt Nam

100 câu thơ về lịch sử Việt Nam

1. Vua nào mặt sắt đen sì? 2. Vua nào trong buổi hàn vi ở …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *