Home / Tài liệu môn Lịch sử / Thơ vui Lịch sử / Lịch sử Việt Nam qua thơ – Phần 3

Lịch sử Việt Nam qua thơ – Phần 3

Thời gian cống phẩm trôi đi

Một vài năm nhẫn nhục thì cũng qua

Hán Cao Tổ đế băng hà (195 TCN)

Lâm phiên bà Lã hậu ra đoạt quyền

Nghe lời xàm tấu nhỏ nhen

Cấm thương buôn bán vàng điền khí kim

Bao ngày nuốt hận nằm im

Bỗng nay bà Lã hậu kìm kẹp thêm

Vũ vương bực tức trổi lên

Tự xưng hoàng đế ở miền Lĩnh Nam

Rồi đem binh mã tràn sang

Chiếm Tràng Sa quận danh vang nức vùng

Hán triều nổi giận đùng đùng

Đem quân sang đánh tranh hùng một phen

Đường xa thủy thổ không quen

Quân Tàu thảm bại ho hen kéo về

Vũ vương thanh thế trăm bề

Oai phong lừng lẫy cận kề trước sau

Đi đâu xe ngựa quân hầu

Làm theo nghi vệ vua Tàu kém chi

Đến khi bà Lã hậu thì (180 TCN)

Thác Văn đế kế trị vì Trung Hoa

Liền sai Lục Giả đưa qua

Thư khuyên Triệu Vũ vương hòa thụ phong

Đọc thư hoàng đế Tàu xong

Những lời tử tế xiêu lòng Vũ vương

Nay nhờ bệ hạ đoái thương

Lão phu dẫu có nát xương không màng

Đáp thư Lục Giả đưa sang

Triệu xin phụng hiến phẩm hàng thường niên

Một băm bảy trước công nguyên (137 TCN)

Vũ vương Triệu mất ngôi truyền đích tôn

Tên Hồ tức Triệu Văn vương

Tính tình nhu nhược tầm thường việc quân

Hồ làm vua được nhị xuân

Vua Mân Việt quấy phá dân biên thùy

Án binh không dám động gì

Sang Tàu cầu cứu hành vi khác người

Hán triều sai tướng Vương Khôi

Và Hàn Anh Quốc tới nơi biên thùy

Quân Mân Việt khiếp sợ uy

Giết vua đem thủ cấp đi hàng Tàu

Bình yên Mân Việt vua Tàu

Bèn cho Trang Trợ dụ chầu Văn vương

Nhưng đình thần cản khuyên lơn

Để Anh Tề thế phụ vương sang chầu

Anh Tề sống ở bên Tàu

Phải lòng Cù Thị nối cầu lương duyên

Một hăm lăm trước công nguyên (125 TCN)

Triệu Văn vương quá cố bên Tàu về

Lo cha an táng giữ lề

Lên ngôi cai quản Anh Tề xưng vương

Đặt niên hiệu Triệu Minh vương

Lập con Cù Thị tên Hưng kế quyền

>> Xem thêm:  Lịch sử Việt Nam qua thơ - Phần 2

Một mười ba trước công nguyên (113 TCN)

Triệu Minh vương chết Hưng liền xưng vương

Cải nguyên là Triệu Ai vương

Hán triều sai Thiếu Quý sang dụ chầu

Thỏa lòng mong đợi đã lâu

Người tình xưa gặp gỡ nhau nơi này

Lửa gần rơm bén chẳng hay

Tư thông thái hậu thẹn thay sứ Tàu

Cả hai ý hợp tâm đầu

Xúi Ai vương hiến cho Tàu nước ta

Bấy giờ tể tướng Lữ Gia

Can ngăn không được mới ra hịch rằng

Vua và Cù thái hậu dâng

Nước Nam cho bọn lân bang Hán rồi

Lữ Gia tụ tập mấy người

Bàn nhau đem cấm binh mời Ai vương

Sứ Tàu, Cù Thị giết luôn

Đoạn tôn Kiến Đức nối nguồn Triệu vương

Là con trưởng của Minh vương

Lên ngai niên hiệu Triệu Dương vương quyền

Một mười hai trước công nguyên (112 TCN)

Có quan thái phó tôi hiền Lữ Gia

Phò vua giữ nước non nhà

Vua nhà Hán giận sai Hàn Thiên Thu

Đem quân sang đánh báo thù

Lữ Gia đón chém Thiên Thu trận tiền

Nhận tin Hán Vũ vương truyền

Tướng quân Lộ Bác Đức miền Quế Dương

Tướng Dương Bộc huyện Dự Chương

Tướng quân Hạ Lại quận Thương Ngô cùng

Quân Qua Thuyền huyện Linh Lăng

Và quân Việt nước Dạ Lang năm miền

Chia thành năm đạo bộ thuyền

Tiến sang Nam Việt chiếm Phiên Ngung thành

Quân Nam Việt quyết phân tranh

Nhưng không chống nổi bỏ thành vào nam

Triệu Dương vương chạy dọc đàng

Hán quân đuổi bắt vua quan chịu hình

Nhớ xưa lâp quốc phân minh

Dân ta kiến tạo nước mình thăng hoa

Đến nay giặc cướp vô nhà

Ách tròng lệ thuộc dân đà khó yên

Một mười một trước công nguyên (111 TCN)

Non sông Lạc Việt rồng tiên ngậm ngùi

Vua Tàu nuốt nước Nam xuôi

Đổi Giao Chỉ bộ di dời mốc ranh

Phận ra làm chín quận thành

Bổ quan thái thú điều hành cơ ngơi

Thêm quan thứ sử trông coi

Lăng xăng giám sát mọi nơi dân lành

Riêng Giao Chỉ quận Tàu đành

Để quyền thế tập các quan Lạc mình

Tới đây sách sử làm thinh

Không ai viết lại dân tình ra sao

Một trăm bốn chục năm sau

>> Xem thêm:  100 câu thơ về lịch sử Việt Nam

Vào năm hăm chín sử Tàu mới ghi (29)

Là khi Vương Mãng cướp ngôi

Các quan Giao Chỉ không rời quận châu

Không thần phục cống phẩm Tàu

Đến khi Quang Vũ khởi màu trung hưng

Thì ông Đặng Nhượng, Tích Quang

Và ông Đỗ Mục mới sang cống chầu

Có hai quan thái thú Tàu

Trị dân nhân chính thuở đầu công nguyên

Một là thái thú Nhâm Diên

Dạy dân trồng lúa canh điền khẩn hoang

Còn người tên gọi Tích Quang

Hết lòng khai hóa dạy trang nghĩa tình

Cứ vào sách sử Hoa bình

Mặc dầu Bắc thuộc dân mình vẫn an

Thấy không chứng cớ để bàn

Nước Tàu pha chủng nhà Nam giống nòi

Xa xôi hiểm trở núi đồi

Hồ đầm sông suối ở đời Hán cai

Trí chưa hiểu biết về dài

Tâm còn gắn bó đoái hoài cố hương

Ông bà cha mẹ thân thương

Vợ con cô bác họ hường khúc nôi

Đến năm Kiến Võ thứ mười

Là năm băm bốn rạng ngời sử Nam (34)

Tên Tô Định thái thú sang

Bạo tàn dữ tợn gian tham thấu Trời

Tháng hai năm bốn mươi thời (40)

Giết Thi Sách thủ lĩnh người Châu Diên

Vợ ông Trưng Trắc thay quyền

Cùng em Trưng Nhị nổi lên chống Tàu

Đuổi Tô Định chiếm Luy Lâu

Các nơi hưởng ứng đứng sau hai bà

Tinh thần quật khởi vang ca

Lên đường đánh giặc cứu nhà lầm than

Cửu Chân, Hợp Phố, Nhật Nam

Chẳng bao lâu hạ sáu lăm thành trì

Giang sơn quằn gánh bước đi

Nam hoa họa dải biên thùy bình minh

Đóng đô ở đất Mê Linh

Xưng Trưng vương chú việc chinh chiến Tàu

Đúng như dự liệu lo âu

Cuối xuân tân sửu vua Tàu sai sang (41)

Phục Ba Mã Viện khôn ngoan

Mon men bờ bể làm đàng tiến quân

Phá rừng đục núi vác khuân

Tới vùng Lãng Bạc đụng quân vua bà

Hai năm giáp mặt can qua

Giặc Tàu mạnh ép quân ta rút về

Bài binh bố trận Cẩm Khê

Giặc vây thít chặt tư bề nguy nan

Quân ta yếu thế vỡ tan

Hai bà tuẫn tiết theo làn Hát giang (43)

Cuốn trong hồn nước sông Nam

>> Xem thêm:  Đại Nam quốc sử diễn ca

Tấm gương Trưng nữ phá hàng ngoại xâm

Như trăng tỏa sáng đêm rằm

Ánh đăng soi lối thuyền dầm đêm mưa

Ba năm khởi nghĩa tranh đua

Vua tôi Quang Vũ sớm trưa ủ rầu

Đủ là để tiếng thơm lâu

Nữ anh hùng Việt đối đầu Hán vương

Đời đời con cháu tiếc thương

Xây đền ghi tạc thắp hương nhị bà

Ngày mồng sáu tháng hai ta

Hàng năm làm giỗ vua Bà nhớ ơn

Phục Ba thắng được Trưng vương

Đem Giao Chỉ bộ thuộc Đông Hán rồi

Khởi binh đánh dẹp các nơi

Đến đâu thành lũy cải đời xứ ta

Dập khuôn chính trị China

Dựng cây đồng trụ truyền là Cổ Lâu

Sáu từ bện lại khắc câu

“Cây đồng trụ đổ mất Giao Chỉ nòi”

Dân Nam phản ứng tuyệt vời

Mỗi lần hòn đá vun bồi lúc qua

Dần dần chỗ ấy lù ra

Núi Giao Chỉ phủ Phục Ba cột đồng

Mưu mô Mã Viện uổng công

Không còn ai biết trụ đồng ở đâu

Kể từ Mã Viện lòng đau

Dân lam lũ vất vả sầu khó phai

Lớp mò đáy biển ngọc trai

Lớp sừng tê giác ngà voi giữa rừng

Lê dân Hợp Phố khốn cùng

Nhọc nhằn tìm chốn tạm dung lánh nàn

Cơ hàn tay xách nách mang

Đắng cay chịu đựng khóc than ai màng

Cho nên trộm cướp lan tràn

Khổ càng tân khổ điêu tàn xác xơ

Quan cai trị cứ tha hồ

Tham lam độc ác vét vơ hại người

Nguyễn Sơn Đảo

Check Also

hoccham img - 100 câu thơ về lịch sử Việt Nam

100 câu thơ về lịch sử Việt Nam

1. Vua nào mặt sắt đen sì? 2. Vua nào trong buổi hàn vi ở …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *